
Lực lượng nữ nhà trường thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, lại ở những miền quê khác nhau cùng lên đây công tác, sinh sống và lập nghiệp. Hơn nữa Trường là trường nội trú vừa thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, vừa thực hiện nhiệm vụ giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh là con em người dân tộc thiểu số từ các bản làng xa xôi về đây học tập. Bên cạnh đó công việc gia đình cũng đè nặng lên đôi vai của các chị. Do đặc thù của nhà trường và trước yêu cầu ngày càng cao về công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới, nữ CBGV-CNV trong trường phải phấn đấu nỗ lực để có thể cùng nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học.
Trường có đội ngũ nữ CBGV-CNV khá đông, chiếm 57,5% trong tổng số CB GV-CNV trong trường. Những năm qua, mặc dù đội ngũ giáo viên trong trường còn thiếu nhiều nhưng nhà trường cũng đã có sự quan tâm đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ nữ như : đã tạo điều kiện cho 1 chị cán bộ thư viện học lớp cử nhân, 2 chị học lớp cử nhân QLGD, 1 chị học lớp TCLLCT, 2 chị học thạc sĩ. Số lượng cán bộ nữ tham gia trong các tổ chức đoàn thể chiếm tỉ lệ cao: Cấp uỷ: 40%, BCH công đoàn: 40%, Tổ trưởng: 50%. Và 100% nữ giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn; 100% có trình độ ngoại ngữ và tin học. Các chị đều soạn giảng bằng vi tính và trong năm học mỗi chị có ít nhất 02 tiết thao giảng có ứng dụng CNTT. 100% các chị đã có hộp thư điện tử để cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm trong giảng dạy, giáo dục và các lĩnh vực khác . Đồng thời thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm, Trường đã tạo điều kiện xét và đề nghị cấp trên thuyên chuyển cho 3 nữ cán bộ GV-CNV về công tác gần nhà để thuận lợi hơn trong công việc xã hội cũng như chăm sóc gia đình. Ngoài ra để động viên các chị phấn đấu trong công việc được giao, nhà trường đã phối hợp cùng công đoàn tổ chức các hoạt động như: tọa đàm, tặng quà, cho các chị tham quan học hỏi nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn 20/10, ngày 8/3. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền sâu rộng trong đội ngũ cán bộ GV-CNV về vai trò của người phụ nữ trí thức thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước và xây dựng gia đình nhà giáo “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” cũng được nhà trường chú trọng. Trong giảng dạy, các chị có con nhỏ được nhà trường áp dụng giảm 2 tiết, và tạo điều kiện về thời khoá biểu để các chị có thời gian tranh thủ về nhà thực hiện thiên chức làm mẹ. Còn các chị nhà ở xa, nhà trường cũng sắp xếp nghỉ vào ngày thứ bảy để các chị về quê sum họp cùng gia đình.
Mỗi chị là mỗi hoàn cảnh, mỗi công việc, không ai giống ai. Ai cũng có cái khó khăn riêng nhất định. Nhưng đối với các chị em cán bộ GV-CNV của một trường nội trú huyện miền núi thì sự khó khăn lại càng tăng lên gấp bội. Các chị nữ công nhân viên nhà trường thực hiện công tác nuôi dưỡng, giáo dục học sinh nhưng chưa được hưởng phụ cấp, lương còn thấp không đủ trang trải cuộc sống gia đình.. Nhiều chị nhà xa nên phải dậy từ 3 giờ sáng đạp xe tới trường chuẩn bị bữa sáng để các em ăn còn kịp lên lớp học, đến 6 giờ tối các chị mới trở về chăm sóc tổ ấm của mình. Còn đội ngũ nữ giáo viên đa số trẻ nhiều nên chưa có kinh nghiệm trong việc giáo dục học sinh dân tộc. Một số ít chị có biểu hiện tự ti, an phận, chưa có ý chí vươn lên, còn hẹp hòi, níu kéo lẫn nhau. Các chị xa nhà chưa có một khu tập thể riêng, khang trang trong thời gian giảng dạy ở trường, do đó rất khó khăn trong sinh hoạt. Không những thế do đặc thù của trường nên cũng có nhiều chị phải giảng dạy nhiều khối lớp, có chị dạy từ khối 6 đến khối 12, có chị phải dạy nhiều môn, do đó công tác đầu tư soạn giảng, chuẩn bị chiếm nhiều thời gian và tất nhiên phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Vì vậy, thời gian dành cho việc chăm sóc gia đình còn rất ít. Sáng các chị tất bật đưa con đến trường, tranh thủ ghé vào chợ mua thức ăn với cặp giáo án trên tay, vì chợ chỉ bán vào sáng sớm. Hơn nữa ngoài việc giảng dạy các chị còn chăm sóc học sinh như một người mẹ, người chị mỗi khi các em đau ốm. Tôi còn nhớ rất rõ đợt dịch H5N1 tràn về trường, các em lần lượt bị dịch xâm nhập, mặc dù hôm ấy trời mưa nhưng các chị không hề than vãn, chở các em học sinh lớp mình nhập viện và chăm sóc, vì gia đình ở xa chưa tới kịp. Nhìn các chị chăm sóc các em học sinh ai cũng tưởng là các mẹ đang chăm sóc con mình. Ở trường công việc là thế, về nhà nhiều chị không được sự động viên, chia sẻ công việc gia đình từ chồng như bao phụ nữ khác với nhiều lí do khác nhau, có chị chồng mất do tai nạn, có chị chồng đau nặng, hay công tác xa nhà… Chính lòng bao dung thương yêu con người, chịu thương chịu khó, cùng với sự chia sẻ, quan tâm, động viên nhau của người phụ nữ đã giúp chúng tôi cùng nhau vượt khó, vượt khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, để có một mái ấm gia đình hạnh phúc với các con chăm ngoan, học giỏi.
Từ những thực trạng trên vấn đề đặt ra cho nữ cán bộ giáo viên trong nhà trường là:
Thứ nhất: các cấp lãnh đạo cần quan tâm, có chế độ ưu tiên cho nữ CBGV-CNV công tác tại trường nội trú. Tạo điều kiện sinh hoạt thuận lợi cho nữ xa nhà để các chị an tâm công tác. Bố trí thời gian, công việc hợp lý, hài hòa giữa cái chung và riêng để chị em có thể hoàn thành tốt công tác được giao. Đồng thời tiếp tục đẩy nhanh yêu cầu đổi mới quản lí một cách toàn diện thông qua các chủ trương, nghị quyết nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Ðây là yếu tố quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, là điều kiện để phát huy tiềm năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ. Thông qua việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Ðảng, chính sách của Nhà nước, phụ nữ được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ và bình đẳng trên mọi lĩnh vực, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của cách mạng. Tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ nữ trưởng thành về số lượng và chất lượng. Tăng cường tham gia của nữ CBGV ở các vị trí lãnh đạo, quản lý nhà trường.
Thứ hai: vấn đề đặt ra cho nữ cán bộ giáo viên đó là đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường.
Để giải quyết được vấn đề này đòi hỏi mỗi cấp mỗi ngành có sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời tăng cường công tác đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ là nữ, như việc tham gia các lớp chuyên môn, các lớp quản lí nhà nước, lớp trung cấp lý luận chính trị, các hội thảo trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện cho các thị tiếp cận các phương tiện thông tin hiện đại, tiếp cận được các phương pháp giảng dạy hiện đại … Qua đó giúp chị em nâng cao nhận thức: rằng mình cần phải học tập suốt đời để bổ sung những kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, những kiến thức về chính trị và những trải nghiệm cuộc sống.
Để có sự bình đẳng giới trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo theo tôi trước hết người phụ nữ chúng ta phải biết tự khẳng định mình, phải luôn phấn đấu và phấn đấu nhiều hơn nữa. Phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có hiểu biết rộng, có kế hoạch làm việc khoa học và có giao tiếp tốt, biết ứng xử. Có sức khoẻ, biết chăm sóc gia đình, chồng con, biết cách sắp xếp thời gian hợp lý cho việc chung, việc riêng. Hơn nữa phải biết thực hiện bình đẳng giới ngay tại gia đình mình bằng cách trao đổi để chồng mình hiểu và chia sẻ công việc gia đình. Tôi nghĩ điều đó có thực hiện được khi chúng ta phải là người quan tâm đến những người thân trong gia đình trước tiên và hơn thế nữa không phải chỉ cá nhân tôi làm, trường tôi làm , địa phương tôi làm mà để có sự bình đẳng giới thực sự thì cần phải có sự giúp sức đồng bộ từ nhiều phía, hay nói rộng hơn là cả xã hội cùng quan tâm cùng chia sẻ thì chị em mới thật sự cảm thấy mình đã được bình đẳng giới. Nói như vậy chị em cũng không phải là người thụ động ngồi chờ mà ngược lại trong chị em phải có sự tự vận động đi lên và mỗi phụ nữ chúng ta phải trả lời chính xác 3 câu hỏi: Tôi là ai? Tôi muốn gì? và Tôi phải làm gì để đạt được điều tôi muốn?.
Nguyễn Thị Hợp GV trường PTDTNT Vĩnh Thạnh
Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng… chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được